Trang chủ                  
 Tin tức                    
 Sản phẩm chính     
 Sản phẩm                  
 Hàng giá trị gia tăng
 Hàng xuất sang Nga
 Qui trình nuôi cá     
 Qui trình chế biến     
 Thiết kế bao bì      
 Công thức làm món ăn
  Giao hàng    
 T.Phần dinh dưỡng
 Giấy chứng nhận        
 HACCP                       
 Hình sản phẩm      
 Hình hội họp       
 Tài liệu Download
 Tài liệu tham khảo
 Sơ đồ website                
 Giới thiệu                  
 Liên hệ                
Cert N0: RN461
 
Đang truy cập
7
Lần truy cập thứ
346843
 
 
   Tài Liệu Tham Khảo Tiêu chuẩn SanPiN 2.3.2.2603-10 (Nga): độ ẩm philê cá không vượt quá 86%   CONEP tìm cách “khai trừ” cá tra Việt Nam ra khỏi thị trường Braxin   Báo Cáo Tài Chính Qúy 2 năm 2010   XK thủy sản: Khó khăn sẽ còn tiếp diễn   Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Thủy Sản Cửu Long An Giang thông báo thay đổi nhân sự   


ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ TRA VÀ CÁ BASA  

1. Phân loại

       Cá tra và ba sa là hai trong số 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) đó được xác định ở sông Cửu long. Tài liệu phân loại gần đây nhất của tác giả W.Rainboth xếp cá tra nằm trong giống cá tra dầu. Cá tra dầu rất ít gặp ở nước ta và cũn sống sút rất ớt ở Thỏi lan và Campuchia, đó được xếp vào danh sách cá cần được bảo vệ nghiêm ngặt (sách đỏ). Cá tra và ba sa của ta cũng khác hoàn toàn với loài cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) thuộc họ Ictaluridae.(Ictalurus punctatus) thuộc họ Ictaluridae

    Phân loại cá tra

        Bộ cá nheo Siluriformes

        Họ cá tra Pangasiidae

        Giống cá tra dầu Pangasianodon

        Loài cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878)

    Phân loại cá ba sa

        Bộ cá nheo Siluriformes.

        Họ cá tra Pangasiidae.

        Giống cá ba sa Pangasius

        Loài cá ba sa Pangasius bocourti (Sau vage 1880)  

 

2. Phân bố

        Cá tra và ba sa phân bố ở lưu vực sông Mê kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam, Cămpuchia và Thái lan. Ở Thái Lan cũn gặp cá tra ở lưu vực sông Mekloong và Chao Phraya, cá ba sa có ở sông Chaophraya. Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và cá giống tra và ba sa được vớt trên sông Tiền và sông Hậu. Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt nam, do cá có tập tính di cư ngược dũng sụng Mờ kụng để sinh sống và tỡm nơi sinh sản tự nhiên. Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dũng từ thỏng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm.

 

3. Hình thái, sinh lý

          Cá tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài. Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10 ), có thể chịu đựng được nước phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15 oc, nhưng chịu nóng tới 39 oc. Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các lũai cá khỏc. cá cú cơ quan hô hấp phụ và cũn cú thể hụ hấp bằng búng khớ và da nờn chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hũa tan. Tiờu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng.

        Cá ba sa (cũn gọi là cá bụng) cũng là cá da trơn, có thân dài, chiều dài chuẩn bằng 2,5 lần chiều cao thân. éầu cá ba sa ngắn, hơi trũn, dẹp bằng, trỏn rộng. Miệng hẹp, chiều rộng của miệng ít hơn 10% chiều dài chuẩn, miệng nằm hơi lệch dưới mừm. Dải răng hàm trên to và rộngvà có thể nhỡn thấy khi miệng khộp. Cú 2 đôi râu, râu hàm trên bằng chiều dài đầu, râu mép dài tới hoặc quá gốc vây ngực. Mắt to, bụng to, lá mỡ rất lớn, phần sau thân dẹp bên, lưng và đầu màu xám xanh, bụng trắng bạc. Chiều cao của cuống đuôi hơn 7% chiều dài chuẩn.

          Cá basa không có cơ quan hô hấp phụ, ngưỡng oxy cao hơn cá tra, nên chịu đựng kém ở môi trường nước có hàm lượng oxy hũa tan thấp. Theo Nguyễn Tuần (2000), cá ba sa sống chủ yếu ở nước ngọt, chiụ được nước lợ nhẹ, nồng độ muối 12, chịu đựng được ở nơi nước phèn có pH >5,5. Ngưỡng nhiệt độ từ 18-400C, ngưỡng oxy tối thiểu là 1,1mg/lít. Nhỡn chung sự chịu đựng của cá ba sa với môi trường khắc nghiệt không bằng cá tra, do đó cá được nuôi thương phẩm chủ yếu trong bè trên sông nước chảy.

 

 4. Đặc điểm dinh dưỡng

          - Cá tra khi hết noón hoàng thỡ thớch ăn mồi tươi sống, vỡ vậy chỳng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột. Ngũai ra khi khảo sỏt cá bột vớt trờn sụng, cũn thấy trong dạ dày của chỳng cú rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các lũai cá khỏc. Dạ dày của cá phỡnh to hỡnh chữ U và co gión được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục. Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt. Ngay khi vừa hết noón hoàng cá thể hiện rừ tớnh ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương. Trong quá trỡnh ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo. Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn. Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các lọai thức ăn bắt buộc khác như mùn bó hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật. Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy.

        - Cá ba sa có tính ăn tạp thiên về động vật. Hệ tiêu hóa của cá thực sự hũan chỉnh 3 ngày sau khi bắt đầu ăn thức ăn bên ngũai. cá cũng hỏu ăn nhưng ít tranh mồi hơn so với cá tra. Sau khi hết noón hoàng , cá ăn phù du động vật là chính. Trong điều kiện nuôi nhân tạo thức ăn thích hợp giai đọan đầu là ấu trùng Artemia, Moina, đạt được tỷ lệ sống tới 91-93%, trong khi dùng thức ăn nhân tạo thỡ tỷ lệ sống chỉ đạt 67% và tốc độ tăng trưởng cũng kém hơn. Từ ngày tuổi thứ 7 có thể chuyển sang ăn thức ăn nhân tạo. Nhu cầu protein của cá ba sa khỏang 30-40% khẩu phần, hệ số tiêu hóa protein khỏang 80-87% và hệ số tiêu hóa chất béo khá cao 90-98% (Nguyễn Tuần, 2000). Giai đoạn lớn cá cũng có khả năng thích ứng nhanh với các loại thức ăn có nguồn gốc động vật, thực vật và dễ kiếm như hỗn hợp tấm, cám, rau, cá vụn và phụ phẩm nông nghiệp, do đó thuận lợi cho người nuôi khi cung cấp thức ăn cho cá trong bè.

        Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên, cho thấy thành phần thức ăn khá đa dạng, trong đó cá tra ăn tạp thiên về động vật, cá ba sa thiên về động vật và mùn bó hữu cơ (Bảng 1 ).

 Bảng 1- Thành phần thức ăn trong ruột cá tra và ba sa ngoài tự nhiờn 

                 cá tra                          (Theo D.Menon và P.I.Cheko (1955)  

                   cá ba sa

Nhuyễn thể

35,4%

Mựn bó hữu cơ

53,1%

cá nhỏ

31,8%

Rễ thực vật

21,1%

Cụn trựng

18,2%

Giỏp xỏc

14%

Thực vật dương đẳng

10,7%

Trỏi cõy

12,1%

Thực vật đa bào

1,6%

Cụn trựng

6,7%

Giỏp xỏc

2,3%

Nhuyễn thể

5,4%

 

 

Cá nhỏ

4,5%

 

 5. Đặc điểm sinh trưởng

          - Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cũn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài. Cá ương trong ao sau 2 tháng đó đạt chiều dài 10-12 cm (14-15 gam). Từ khỏang 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể. Cỡ cá trên 10 tuổi trong tự nhiên (ở Campuchia) tăng trọng rất ít. Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm. éó gặp cỡ cá trong tự nhiờn 18 kg hoặc cú mẫu cá dài tới 1,8 m. Trong ao nuụi vỗ, cá bố mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg ở cá 10 năm tuổi. Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1-1,5 kg/con ( năm đầu tiên ), những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5-6 kg/năm tùy thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít. éộ bộo Fulton của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản.

            - Ở cá ba sa, thời kỳ cá giống cũng lớn khá nhanh, sau 60 ngày cá đạt chiều dài 8-10,5 cm, sau 7-8 tháng đạt thể trọng 400-550 gam, sau 1 năm đạt 700-1.300 gam. Nghiên cứu về tăng trưởng cá ba sa cho thấy trong 2 năm đầu tiên cá tăng trưởng nhanh về chiều dài thân, càng về sau tốc độ này giảm dần. Khi đạt đến một kích thước nhất định thỡ chiều dài thõn hầu như ngừng tăng. Ngược lại trong 2 năm đầu tốc độ tăng trưởng về thể trọng chậm nhưng tăng dần về sau. Nuôi trong bè sau 2 năm có thể đạt tới 2.500 gam. Trong tự nhiên đó gặp cỡ cá cú chiều dài thõn 0,5m.

 

6. Đặc điểm sinh sản

    6.1- Cá tra

        Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5-3 kg. Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận của Campuchia và Thái lan. Ngay từ năm 1966, Thái lan đó bắt cá tra thành thục trờn sụng ( trong đầm Bung Borapet) và kích thích sinh sản nhân tạo thành công. Sau đó họ nghiên cứu nuôi vỗ cá tra trong ao. éến năm 1972 Thỏi lan cụng bố quy trỡnh sinh sản nhõn tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục trong ao đất.  

Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhỡn hỡnh dỏng bờn ngoài thỡ khú phõn biệt được cá đực, cái. Ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay nừan sào. Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều. Các giai đọan sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hỡnh dạng phõn nhỏnh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa. Hệ số thành thục của cá tra khảo sỏt được trong tự nhiên từ 1,76-12,94 (cá cái) và từ 0,83-2,1 (cá đực) ở cá đánh bắt tự nhiên trên sông cỡ từ 8-11kg (Nguyễn văn Trọng, 1989). Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5%.  

        Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5-6 dương lịch, cá có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam. Bói đẻ của cá nằm từ khu vực ngó tư giao tiếp 2 con sông Mêkông và Tonlesap, từ thị xó Kratie (Campuchia) trở lờn đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào. Nhưng tập trung nhất từ k Kampi đến hết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng. Tại đây có thể bắt được những cá tra nặng tới 15 kg với buồng trứng đó thành thục. cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ của loài cây sống ven sụng Gimenila asiatica, sau 24 giờ thỡ trứng nở thành cá bột và trụi về hạ nguồn.

        Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1-3 lần trong một năm. .

        Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt đối. Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng. Sức sinh sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái. Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính. Trứng sắp đẻ có đường kính trung bỡnh 1mm. Sau khi đẻ ra và hút nước đường kính trứng khi trương nước có thể tới 1,5-1,6mm.

 

     6.2- Cá ba sa

     Cá ba sa thành thục ở tuổi 3+ - 4. Trong tự nhiờn vào mựa sinh sản (thỏng 3-4 hằng năm) cá ba sa cũng ngược dũng tỡm Các bói đẻ thích hợp và đẻ trứng như cá tra. Cũng như cá tra, cá ba sa không có cơ quan sinh dục phụ nên cũng khó phân biệt cá đực cái khi nhỡn hỡnh dạng ngoài. Khi Cá đó ở giai đọan thành thục có thể phân biệt bằng cách vuốt tinh dịch cá đực và thăm trứng cá cái. Hệ số thành thục của cá (nuôi vỗ trong ao và bè) đạt 2,72 - 6,2%, sức sinh sản tuyệt đối đạt tới 67.000 trứng (cá 7 kg), đường kính trứng từ 1,6-1,8 mm. Trứng cá ba sa cũng có tính dính như trứng cá tra.

        Mựa vụ sinh sản cá ba sa ngoài tự nhiờn cú tớnh chu kỳ rừ rệt. Vào thỏng 8, sau khi kết thỳc mựa sinh sản, tiếp theo là quỏ trỡnh thoỏi hoỏ và cơ thể sẽ hấp thu những sản phẩm sinh dục cũn sút lại, buồng trứng chỉ cũn là các nang rỗng và vào những thỏng cuối năm trở về giai đọan II. Các tháng tiếp theo sau đó là quá trỡnh hỡnh thành các hạt trứng mới, buồng trứng tăng dần kích thước và đạt lớn nhất vào tháng 4-5 năm sau. Vào tháng 6-7, đường kính trứng đạt 1,5-1,7mm và cá bước vào thời kỳ sinh sản khi đường kính trứng đạt 1,8-2mm. Từ tháng 7 trở đi là thời kỳ cá đẻ trứng. Trong nuôi vỗ sinh sản nhân tạo, mùa vụ thành thục và đẻ của cá ba sa thường sớm hơn trong tự nhiên từ 2-3 tháng, ca thành thục và bước vào mùa vụ sinh sản nhân tạo từ tháng 3 và kéo dài đến thỏng 7, tập trung vào thỏng 4-5.5.

 

 

        Nguồn: TRUNG TÂM TIN HỌC - BỘ THUỶ SẢN

 

 

update count set count=346844

Tài liệu khác:

 
Chọn trang: 1  
http://www.vietfish.com.vn http://www.seafood-russia.ru http://www.bostonseafood.com http://www.euroseafood.com http://www.polfishfair.pl http://www.infofish.org
Vietnam Fisheries International Exhibition2007
(12-14 June 2007)
Seafood Russia 2007
(05-07 June 2007)
The International Boston Seafood Show
(11-13 Mar 2007)
European Seafood Exposition 2007
(24-26 Apr 2007)
Polfish International Fair of Fish Processing and Fish Products
(29-31 May 2007)
Catfish 2007 Vietnam
(12-14 June 2007)

 

|Trang chủ |  Tin tức |  Tài liệu |  Sản phẩm chính |  Sản phẩm |  Hàng giá trị gia tăng |  Hàng xuất sang Nga |  Qui trình nuôi cá |

 | Qui trình chế biến |  Thiết kế bao bì |  Thành phần dinh dưỡng |  Công thức làm món ăn |  Giới thiệu |  Liên hệ |

Bản quyền thuộc về công ty Cổ phần XNK Thủy sản Cửu Long An Giang.
Địa chỉ website: http://www.clfish.com.
Email: clfish@vnn.vn.
Thiết kế bởi: pangafish.com.